Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ Thuật - Tàu thuyền composite. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ Thuật - Tàu thuyền composite. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2015

[TÀU THUYỀN COMPOSITE FRP] CÔNG NGHỆ ĐÓNG TÀU COMPOSITE (TÀU FRP - P.7)


CÁC LOẠI CÔNG NGHỆ
Các công nghệ cơ bản để đóng tàu FRP và làm các bộ phận kết cấu của nó bao gồm: đúc tiếp xúc, đúc hút chân không, đúc chuyển resin RTM, đúc hấp nhiệt, quấn sợi.

ĐÚC TIẾP XÚC (Phương pháp trải tay)
Đây là phương pháp được áp dụng rất phổ biến cho tàu, laminat đóng rắn ở nhiệt độ phòng, không cần gia nhiệt và áp lực. 

ĐÚC HÚT CHÂN KHÔNG
Phương pháp này được áp dụng chủ yếu cho các vỏ tàu và kết cấu sandwich khi yêu cầu kỹ thuật cao, ít áp dụng cho sản xuất tàu mang tính thương mại. Nguyên lý của phương pháp này là: tạo laminat bằng phương pháp trải tay như thông thường trên khuôn, sau đó phủ kín laminat bằng "túi" plastic mỏng, rồi dùng bơm hút chân không để hút hết không khí và resin dư thừa. Bằng cách này cho phép áp dụng tỉ lệ sợi thuỷ tinh cao, đảm bảo sự đồng đều và sự dính kết giữa áo vỏ và lõi. Áp lực trên bề mặt laminat tương đối cao: 13-14 PSI, réin đạt về các cạnh, mép và sau đó được cắt bỏ. Phương pháp này tương tự như công nghệ đúc chuyển resin, có hút chân không (VARTM), cho chất lượng laminat cao đồng đều, ít bọng khí tuy hàm lượng thuỷ tinh cao

ĐÚC CHUYỂN RESIN KHUÔN ĐỰC - CÁI 
Phương pháp này cho sản phẩm bóng, đẹp đồng đều và nhanh chóng. Nhưng chi phí khuôn cao, trong khi mẫu của tàu lại hay phải cải tiến. 

ĐÚC HẤP NHIỆT 
Phương pháp này trái ngược với phương pháp hút chân không. Sau khi tạo laminat thì cũng phủ kín bằng màng plastic mỏng, nhưng tất cả được đưa vào "buồng" kín khí dưới áp lực và gia nhiệt. Tương tự như phương pháp hút chân không tuy đảm bảo chất lượng cao nhưng rất tốn kém thời gian và chi phí, nên ít được áp dụng cho mục đích thương mại.

PHƯƠNG PHÁP QUẤN SỢI 
Các sợi filament được thấm resin và quấn vòng xoắn ốc liên tục trên khuôn định hình. Góc quấn có thể khác nhau, nên đặc tính của laminat được kiểm tra rất kỹ lưỡng. Phương pháp này chỉ hạn chế cho ngành hàng hải , mà áp dụng chủ yếu cho dạng cột buồm, trụ hoặc các hình dáng đơn giản khác. Công nghệ này được áp dụng rộng rãi cho ngành không gian vũ trụ như làm két chứa nhiên liệu phóng tên lửa.

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

MÔ HÌNH TÍNH TOÁN SỨC BỀN VỎ TÀU FRP [TÀU FRP - P.6]

MÔ HÌNH TÍNH TOÁN SỨC BỀN VỎ TÀU FRP
VỎ TÀU – PANEL ĐƠN
Các panel đơn nói chung đều được coi như tấm bản cố định các cạnh và chịu tải phân bổ đều, do đó ứng suất uốn và độ võng (biến dạng) đều được tính toán theo lý thuyết sức bền vật liệu thông thường. Mô hình tính toán là tấm, thanh đặt trên 3 điểm tựa và chịu tải uốn phân bổ đều như minh họa dưới đây. Còn tấm bản khi tỷ lệ chiều dài trên chiều rộng (dài/rộng) lớn hơn 2 thì coi như dầm ngàm 2 đầu. Nếu độ biến dạng, dưới tác động của lực vượt quá ½ chiều dày panel, thì phải xem xét ứng suất.


Panel cong thường cứng vững hơn panel thẳng. Dạng panel cong rất nhiều ở vỏ tàu, và có ý nghĩa rõ rệt về khả năng chịu lực uốn. Nếu vỏ tàu có dạng cong như thế, thì có thể coi như một dầm liên tục tựa trên vài điểm đỡ (dầm dọc) hình dưới đây bọc nửa chu vi mặt cắt của tàu. Trên hình minh họa vỏ đơn của tàu được coi như một dầm liên tục, tựa toàn phần lên các dầm dọc và một phần ở hông tàu. Các đường ngắt quãng là biến dạng của panel khi chịu tải.



PANEL KÉP – VỎ TÀU KÉP SANDWICH
Với panel kép – sandwich thì việc phần tích lực phức tạp hơn vì có 2 loại vật liệu: áo và lõi. Nhưng ta có thể đơn giản hóa bằng cách chuyển đổi nó thành mô hình panel đơn tương đương trên cơ sở momen quán tính tương đương (cho biến dạng) hoặc môdun tương đương (cho ứng lực) và phân tích ứng lực như một panel đơn.
Trường hợp lõi là gỗ dán thì nếu lớp áo FRP mỏng sẽ không đóng vai trò gì đáng kể, bởi lẽ môdun đàn hồi của FRP và gỗ gần như nhau, mọi ứng lực dường như gỗ chịu là chủ yếu. Nhưng nếu lắp áo FRP dày, hoặc có môdun đàn hồi cao hơn gỗ dán đáng kể thì phải xác định sức phân bố thực tế của ứng lực (ứng suất) cho lõi gỗ vào áo FRP như thể hiện trên hình dưới đây.








DẦM – XÀ
Thường các dầm, xà nói chung đều được tính toán theo ứng suất kéo hoặc nén tùy cơ sở lý thuyết sức bền vật liệu. Ứng suất cắt thường ít khi phải kiểm tra, nhưng cần lưu ý khi dầm FRP ngắn và sân thì sự phân bổ ứng suất cắt cho dầm FRP lại có ý nghĩa và nên xem xét. Khoảng cách có ảnh hưởng thực tế của vỏ tàu (panel) đối với dầm gia cường được giới thiệu ở hình bên dưới.


TRỤ CỘT
Với trụ hoặc cột đỡ FRP được thiết kế theo sức bền nén, áp dụng các công thức Euler.
Qua trình bày trên đây ta thấy quá trình thiết kế cho tàu FRP dựa trên cơ sở đặc tính của Laminat theo chiều 0 độ của sợi dọc và nghiêng toàn phần 90 độ, hiếm khi phải xem xét sức bền thấp ở 45 độ. Quá trình thiết kế nêu trên không áp dụng nghiêm ngặt cho laminat – sợi một chiều, tuy nhiên thực tế vẫn được áp dụng với độ chính xác gần đúng có thể chấp nhận được.

NGUYÊN VẬT LIỆU CẦN THIẾT CHO SX TÀU FRP
Liên hệ để được tư vấn chi tiết: 0964.329.799
- Nhựa Polyester Resin
- Nhựa Vinylester Resin
- Sợi MAT 300
- Sợi ROVING 600
- Sợi TISSUE
- Gelcoat trắng (trong)
- Tooling Gelcoat (làm khuôn)
- Butanox
- Màu Polyton
- Bột nhẹ, chất độn
- ACETONE
- WAX

...



Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

[TÀU THUYỀN FRP] Các đặc tính khác của vật liệu composite FRP

1.SỨC BỀN MỎI
Trên bảng dưới đây là các đồ thị tỷ lệ % sức bền mỏi còn chịu được của laminat FRP, của nhôm, thép mềm trong điều kiện hàn, phụ thuộc vào chu kỳ mỏi. Trường hợp laminat – sợi mội chiều thiếu số liệu về sức bền mỏi, cũng có thể sử dụng đồ thị này. Các đồ thị này áp dụng cho sức bền mỏi về: kéo, uốn, nén, cắt của laminat đối với sự đảo ngược toàn phần của ứng lực. Từ đồ thị ta thấy trong phạm vi chu kỳ mỏi từ 0-10^6 thì sức bền mỏi của FRP so với kim loại nhôm, thép mềm thấp hơn chị khoảng 20%. Với các phần tiếp xúc nhiệt độ nâng cao hoặc trong điều kiện thời tiết gay gắt thì sức bền mỏi thấp hơn như trên đồ thị.

Dưới tác dụng của ứng lực cố định, thì hiện tượng cong trĩu dần do hiện tượng mỏi không đáng kể nếu ở nhiệt độ phòng, và nó giữ được từ 20-30% so với sức bền tối đa.

2.SỨC BỀN VA ĐẬP
Laminat có vải hoặc roving dệt (WR) gia cường thì sức bền va đập gấp hai lần. So với laminat-MAT có cùng chiều dày hoặc trọng lượng. Qua kinh nghiệm các vỏ tàu FRP đã sử dụng cho thấy sức bền va đập của FRP thỏa mãn được các lực va đập thông thường vì tính chất đàn hồi cao của nó. Tuy nhiên cũng chưa thể xác định cụ thể ở mức năng lượng va đập tối thiểu như thế nào (so với thép hoặc nhôm) thì vỏ tàu FRP bị nứt vỡ, nước chảy vào lòng tàu. Dù sao thì kim loại chịu va đập khá hơn FRP, còn FRP chịu khá hơn vỏ gỗ.

3.ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỆT ĐỘ
Nhiệt độ cao có ảnh hưởng nhiều đến laminat FRP. Sức bền của Laminat FRP với polyester resin ở nhiệt độ nâng cao 200 độ F, 300 độ F và 400 độ F so với khi ở nhiệt độ phòng sẽ giảm tương ứng và còn duy trì được 10%, 50% và 90%. Tuy nhiên các nhà thiết kế tàu nhỏ, cũng không phải lo lắng nhiều bởi lẽ vỏ tàu thường chỉ có thể tiếp xúc nhiệt độ khoảng 150 độ F, trừ đường ống khí xả của động cơ thì đã được cách nhiệt rồi. Còn ở nhiệt độ lạnh hoặc rất lạnh thì đặc tính của Laminat FRP lại tốt hơn cho nên sức bền của vỏ tàu không bị giảm.

4.ĐẶC TÍNH VẬT LIỆU LÕI
Trong bảng dưới đây là đặc tính vật lý của các loại vật liệu lõi được sử dụng cho tàu FRP. Đặc tính của xốp chất dẻo PVC và PU tỷ lệ thuận với tỷ trọng, cho nên trong trường hợp khác so với tỷ trọng cho trong bảng thì có thể xác định gần đúng các giá trị sức bền bằng cách nhân với tỷ lệ tỷ trọng.

5.XÁC ĐỊNH TRỌNG LƯỢNG VỎ TÀU FRP
Việc xác định trọng lượng của vỏ tàu FRP khó hơn nhiều so với các vật liệu khác vì cấu trúc của nó phụ thuộc vào quá nhiều yếu tố và thành phần. Để xác định trọng lượng laminat thì có thể sử dụng bảng dưới đây công thêm 0,1 – 0,2 pounds trên mỗi feet vuông trọng lượng gelcoat (vì số liệu ở bảng này không kể đến trọng lượng gelcoat). Trường hợp dùng resin cháy chậm thì tỷ trọng của nó khoảng 1,33, trong khi polyester 1,15 và vinyl ester 1,05, do đó nếu 35% sợi thủy tinh trong laminat, còn lại 65% thuộc resin phải tăng giá trị trong bảng này theo tỷ lệ tương ứng 1,33/1,15 và 1,33/1,05.

Trường hợp laminat sợi một chiều, có thể tính như ví dụ sau: Một laminat có 10 lớp vải 1 chiều 16 oz và hàm lượng sợi gia cường chiếm 65%:

Trọng lượng sợi thủy tinh:
10x16=160 oz tương đương 1,11 lb/ft^3
Tổng trọng lượng của laminat sẽ là: 1,11/0,65 = 1,7 lb/ft^3
Trọng lượng resin sẽ là: 1,7 x 0,35 = 0,595 lb/ft^3
Thực ra với laminat MAT và roving dệt cũng có thể tính như trên, nhưng mất nhiều công so với dùng bảng trên.

Khi tính trọng lượng của vỏ tàu cũng cần lưu ý: khoảng 5% vải gia cường sẽ được cắt bỏ, nên cũng phải trừ đi trọng lượng này. Tùy theo cỡ, loại tàu, tỷ lệ FRP và các vật liệu khác nhau tham gia trong kết cấu vỏ tàu, nên việc so sánh trọng lượng vỏ tàu bằng vật liệu khác cũng rất khác nhau. Tuy nhiên nói chung trọng lượng vỏ tàu FRP dùng roving dệt có thể bằng 50-60% trọng lượng của vỏ tàu cùng cỡ làm bằng gỗ, thép hoặc xi măng lưới thép.

Ví dụ với tàu kéo 110 foots: bằng gỗ nặng 120 tấn, thép: 130 tấn còn FRP: 75 tán, nhẹ hơn khoảng 30-50%. Tàu đánh tôm 70-75 foots bằng FRP nhẹ hơn 20-25% so với vật liệu thép. Nếu kết hợp sợi thủy tinh với sợi carbon thì trọng lượng vỏ tàu FRP nhẹ hơn tàu thép đến 40%. Việc giảm trọng lượng này có nghĩa là giảm được lượng chiếm nước, hoặc cho phép sức chở lớn hơn, hoặc lắp them được nhiều thiết bị khác và cũng giảm được chi phí nhiên liệu. Đây cũng chính là lợi thế của vật liệu FRP.


Thứ Năm, 15 tháng 10, 2015

[TÀU THUYỀN FRP] THAM KHẢO QUY TRÌNH THI CÔNG TÀU THUYỀN COMPOSITES



Click để tham gia cộng đồng TÀU THUYỀN COMPOSITE VN

I. Chế tạo khuôn. 
1: Nguyên tắc chung.
  • Khuôn được chế tạo 1 lần, bỏ qua giai đoạn làm dưỡng.
  • Vật liệu chế tạo khuôn: Gỗ nhóm 4.
2: Các bước tiến hành.
  • Bước 1: Từ bản vẽ đường hình, thực hiện công đoạn phóng dạng như đối với việc đóng mới một tàu thông thường.
  • Bước 2: Tiến hành chế tạo các khoảng sườn. Ở các vị trí gấp khúc của sườn, ta sử dụng mã gia cường như trong trường hợp tàu gỗ. Khung sườn được đặt thẳng trên nền bằng các chân gỗ, sau đó đặt các khung sườn theo đúng vị trí ghi trên nền nhà xưởng.
  • Bước 3: Tiến hành cân chỉnh khung sườn, sao cho các vị trí đường nước vạch trên thân sườn là hoàn toàn ở cùng độ cao các vị trí cắt dọc giữa. Việc cân chỉnh này được thực hiện giống như khi dựng khung xương tàu vỏ gỗ hoặc vỏ thép.
  • Bước 4: Dùng gỗ dày 10mm, bào láng một mặt ốp vào phía trong của khung sườn. Khi đó, mặt trong của khuôn có hình dạng giống hình dáng bên ngoài vỏ thuyền. Phủ lên bề mặt trong khuôn bằng formica sẽ làm cho việc tách khuôn dễ dàng hơn.
3:  Xử lý khuôn.
  • Việc tiến hành xử lý khuôn nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm và tạo điều kiện thuận lợi cho công đoạn tách khuôn sau này. Việc xử lý khuôn được tiến hành theo 3 bước:
Bước 1: Cân chỉnh khuôn:
   Khuôn gỗ rất dễ bị biến dạng trong quá trình chế tạo và dịch chuyển, nhất là sau khi ghép lại để thi công vỏ ở lần tiếp theo. Công đoạn cân chỉnh khuôn nhằm khôi phục lại hình dạng ban đầu của khuôn.
Bước 2: Xử lý bề mặt khuôn:
  • Mục đích: Tạo độ bóng bề mặt khuôn để sản phẩm sau khi tách ra khỏi khuôn có độ bóng cao.
  • Phương pháp thực hiện: Việc xử lý bề mặt được thực hiện như làm dưỡng tàu, nhưng đơn giản hơn nhiều, vì bản thân lớp formica lót trong bề mặt khuôn có độ bóng rất sao, chỉ cần matít ở các vị trí mối ghép giữa các tấm formica với nhau. Sau đó dùng giấy nhám mịn để làm bóng khu vực trét matít.
Bước 3: Xử lý chống dính:
Mục đích: Giúp tách sản phẩm ra khỏi khuôn dễ dàng, bảo vệ bề mặt sản phẩm không bị tróc rỗ.

Phương pháp thực hiện:
  • Quét đều lên bề mặt khuôn một lớp dung dịch PVA (Polyvinyl Alcol) nhằm tạo lớp màng ngăn cách, không cho dung môi styren (có mặt trong vật liệu Grelcoat và trong nhựa) xâm nhập vào khu vực có trét matít. Chiều dày lớp PVA từ 0,2÷0,3(mm).
  • Sau khi lớp PVA khô hẳn (dùng tay sờ vào bề mặt PVA nếu thấy không dính là được), ta dùng vải sạch thấm Wax (chất chống dính dùng trong chế tạo các sản phẩm GRP) lau liên tục mặt khuôn. Lúc này khuôn đã sẵn sàng cho việc trát vỏ.
4: Trát vỏ.
   Các thao tác thực hiện làm vỏ tàu từ vật liệu GRP với công cụ thô sơ như con lăn hay bằng súng phun đều được gọi tên là dat. Ở đây ta dùng con lăn để dat và dat theo từng lớp. Việc dat vỏ thuyền được thực hiện theo các bước sau:

II. Phun Gelcoat.
   Sau khi bề mặt khuôn đã được chuẩn bị chu đáo, tiến hành phun lớp gelcoat nhờ súng phun gel (giống như phun sơn nhưng áp lực lớn hơn). Lớp gelcoat lá lớp phủ bề mặt nhằm giúp cho vỏ thuyền:
  •  Có độ bóng bề mặt cao.
  •  Có cơ tính cao.
  •  Bền với môi trường nước biển. Chống được hiện tượng thủy phân.
  •  Chịu được tia tử ngoại.
Chiều dày lớp gelcoat khoản 1mm, nên việc phun gel phải được thực hiện làm 2 lần, vừa làm cho lớp gelcoat không bị chảy do quá dày, vừa đảm bảo độ đồng đều chiều dày. Thời gian giữa hai lần phun phải đủ cho lớp đầu tiên khô hoàn toàn (khoảng 12h). Sử dụng gelcoat trong quá trình trát lớp tương tự như dùng nhựa Polyeste, trong đó tỷ lệ chất đông rắn khoàng từ 0,8 ÷ 1 % khi phun ở nhiệt độ thường.

III. Trát các lớp vải
1. Trát lớp CSM đầu tiên.
Lớp sợi thủy tinh đầu tiên trát ngay sau lớp gelcoat phải là lớp CSM. Trát lớp CSM đầu tiên được tiến hành sau khi lớp gelcoat đã đông cứng hoàn toàn. Thời gian từ khi kết thúc việc phun gelcoat cho đến khi bắt đầu trát khoảng 12h. Không nên sớm hơn hoặc muộn hơn do:
  • Nếu trát nhựa vào lớp gel chưa khô hẳn nhựa mới sẽ tham gia phản ứng với lớp gel, làm cho gelcoat bị nhão ra, dẫn đến hiện tượng nhăn bề mặt, kết quả sản phẩm sau khi hoàn thành có lớp bề mặt biến dạng, lớp gel được tách cục bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng lớp vỏ thuyền thúng.
  • Nếu lớp gel đã khô trong thời gian quá lâu (Khoảng vài ngày) sẽ bị chai, dẫn đến giảm khả năng liên kết với lớp nhựa tiếp theo.
  • Trước khi trải lớp CSM, nên trát một lớp nhựa (đã pha đông rắn) lên bề mặt lớp gel, sau đó trải lớp CSM, tiếp tục dùng rulô thấm nhựa cho ngấm đều sợi thủy tinh. Trong quá trình trát, phải đảm bảo tỷ lệ nhựa sợi phù hợp, khi gia công nếu không chú ý dễ xảy ra tình trạng nhựa ngấm vào sợi quá nhiều sẽ làm giảm chất lượng sản phẩm.
  • Để đảm bảo sự liên kết bền vững giữa lớp gel và lớp GRP đầu tiên nên chọn tấm CSM loại 300 hay 450 g/m2.
2. Trát thứ cấp.
  • Các lớp GRP tiếp theo được trát theo phương thức trải CSM hoặc WR trước, sau đó dùng rulô lăn nhựa đã trộn catalyst cho ngấm đều sợi thủy tinh.
  • Việc trát lớp được thực hiện theo phương thức: Lớp trước đông cứng mới trải lớp tiếp theo hoặc có thể trải đồng thời nhiều lớp cùng lúc. Không được tiến hành quá nhanh song cũng không nên để cho lớp trước đông cứng quá mức. Việc trát lớp không nên tiến hành muộn hơn 12h sau khi đã hoàn thành lớp trước đó. Công việc trát lớp được lập lại cho đến lớp cuối cùng theo yêu cầu của kết cấu vỏ.
3. Các mối nối vải thủy tinh.
Để đảm bảo thuyền có độ bền cao như có thể, khi thi công vỏ thuyền cần phải chú ý đến các nguyên tắc sau:
Khi nối các tấm sợi gia cường:
  •  Tất cả các loại sợi thủy tinh dạng Mat và WR đều được chế tạo và đóng gói dưới dạng cuộn có chiều rộng (còn gọi là khổ) từ 1 ÷ 1,5 m. Như vậy để phủ một diện tích có chiều rộng khá lớn, nhất thiết phải nối nhiều lớp vải lại với nhau. Có hai phương pháp nối chủ yếu: Nối đối đầu và nối chồng.
*Mối nối đối đầu có ưu điểm:
  • Tạo được bề mặt phẳng, không gồ ghề như mối nối đối đầu.
  • Tiết kiệm được vật liệu.
*Mối nối đối đầu có nhược điểm:
  • Sự sai phạm trong thi công mối nối đối đầu sẽ làm giảm sức bền cục bộ, do đó phải xem xét tỉ mỉ nhất là đường liên kết giữa các lớp.
Trong thi công thường sử dụng xen kẽ cả hai phương pháp này.  

4. Thi công các khu vực có độ dày khác nhau.
  • Để đảm bảo độ bền đều, vỏ tàu thường có chiều dày khác nhau tùy theo từng khu vực. Mỗi khu vực trong thân thuyền đòi hỏi được gia công chính xác, phù hợp với chức năng của nó. Khi trát lớp phải tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật đặt ra cho mỗi chi tiết.
  • Thông thường ky chính có chiều dày lớn hơn chiều dày trung bình của thân vỏ. Ngoài ra ở các khu vực tiếp giáp giữa đáy thuyền với mạn cần phải gia cường thêm để tăng độ cứng vững, thông thường chiều dày lớp bổ sung thêm bằng 0,5 chiều dày lớp vỏ chính.
IV. Chế tạo và gắn các chi tiết vào vỏ.
  • Kết cấu khung sườn trong vỏ thuyền thúng composites chỉ gồm: sường ngang.
  • Với loại cốt sợi được chọn là CSM 450, để đạt được chiều dày của sườn ngang là 4mm cần sử dụng 4 lớp. Quá trình trát lớp cho khung sườn tương tự như trát vỏ thuyền, chỉ khác do khoản cách giữa hai khung sườn liên tiếp là 400mm. Để dễ thi công độ chênh lệch giữa các lớp cốt sợi thủy tinh là 200mm.
*Các bước gắn sườn vào vỏ như sau:
  • Bước 1: Lần lược đặt từng khung sườn vào đúng vị trí của chúng như đã quy định trong hồ sơ thiết kế, muốn thế phải vạch dấu cẩn thận vị trí từng khung sườn trên vỏ tàu bằng phấn hay mực.
  • Bước 2: Cố định từng khung sườn tạm thời vào vỏ nhờ một lớp GRP cốt mát, trát qua một số vị trí cục bộ trên thân khung sườn.
  • Bước 3: Dùng nhựa trộn với thủy tinh vụn trám thật kỹ các khe hở giữa khung sườn và vỏ thuyền. Đây là công đoạn hết sức quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sức bền thân thuyền thúng. Việc tồn tại những khe hở giữa khung sườn và vỏ thuyền rất dễ dẫn tới hiện tượng tách giữa chúng với nhau khi thuyền hoạt động. Để giảm tối đa khe hở do sai sót khi chế tạo gây ra, khi ghép thường sử dụng những vật nặng để ép sát khung sườn vào vỏ tàu.
  • Bước 4: Trát vật liệu GRP để gắn khung sườn vào vỏ thuyền. Bề mặt vỏ thuyền sau khi gắn xong khung sườn phải phẳng, tránh sự lồi lõm cục bộ dễ dẫn đến tập trung ứng suất.
V. Tách khuôn.
  • Tách khuôn là quá trình tách vỏ thuyền composite ra khỏi khuôn gỗ. Tách khuôn được thực hiện sau quá trình trát vỏ thuyền. Sau khi vỏ thuyền đã được trát đảm bảo về độ dày, bóng bề mặt thì vỏ thuyền sẽ được để đông cứng hoàn toàn. Sau khi vỏ thuyền đã đông cứng hoàn toàn thì dùng súng bắn hơi để tách khuôn. Dùng súng bắn vào những lỗ nhỏ ở khuôn (đã được khoan trước) đẩy hơi vào giữa hai lớp vỏ thuyền và khuôn, hơi với áp lực cao sẽ tách hai lớp này ra.
VI. Mài nhẵn.
  • Dùng máy mài và giấy nhám để làm nhẵn các bề mặt và cạnh thuyền. Mài sao cho đảm bảo được độ bóng bề mặt phải đồng đều
VII. Sơn vỏ.
  • Sau khi hoàn thành quá trình mài nhẵn thì tiến hành sơn vỏ thuyền. Mặt ngoài thuyền thúng sơn màu xanh nước biển, mặt rong sơn màu vàng.


Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

[TÀU THUYỀN COMPOSITE] SỨC BỀN THAY ĐỔI THEO CHIỀU CỦA LỰC SO VỚI CHIỀU CỦA SỢI [TÀU FRP - P.5]

Click để tham gia cộng đồng TÀU THUYỀN COMPOSITE VN

SỨC BỀN CỦA SỢI THỦY TINH TRONG KẾT CẤU VỎ TÀU COMPOSITE
Chất dẻo gia cường bằng sợi thủy tinh FRP có một số đặc tính riêng, cho nên cần xem xét, phân tích và đúc kết. Trong thực tế, ở nhiều trường hợp, trên cơ sở kinh nghiệm của các tàu đã làm, người ta đơn giản hóa để áp dụng kỹ thuật thiết kế thông thường. Một trong những lý do cơ bản để làm như vậy là tải cục bộ hay trên toàn thân tàu cỡ nhỏ đều không được nghiên cứu và chỉ dẫn rõ rang, mà hầu như chỉ là gần đúng. Cho nên việc phân tích kết cấu tàu nhỏ hiếm khi thỏa đáng, trừ trường hợp đối với tàu đòi hỏi khắt khe về giảm trọng lượng không cho phép sai số lớn. Thông thường trong thiết kế người ta dựa vào khả năng mang tải gần đúng của tàu mẫu đã qua thực tế trong một thời gian dài, rồi từ đó áp dụng cho các thiết kế sau. Dĩ nhiên, như vậy dễ dẫn đến những thiết kế sai lầm tiếp nối nhau. Nhưng, đối với tàu nhỏ thì cũng ít khi xảy ra trục trặc bởi lẽ để cạnh tranh, các nhà sản xuất tàu nhỏ cũng cố ý chỉ sản xuất vài mẫu tàu không khác nhiều so với mẫu ban đầu đã thành công trong sử dụng. Giả sử như mẫu tàu xuất hiện sự hư hỏng thì họ tìm cách tăng them sức bền. Vì vậy các loại tàu nhỏ FRP ngày nay được chế tạo theo quan điểm dung hòa giữa tuổi thọ và giá thành thấp nhất, tất nhiên loại trừ quan điểm chỉ chạy theo lợi nhuận mà lơ là với chất lượng.

PHÂN TÍCH TÍNH CHẤT ĐẶC BIỆT CỦA LAMINAT FRP
So với kim loại, thì laminat sợi thủy tinh có những tính chất đặc biệt khác sau đây:

1.SỨC BỀN THAY ĐỔI THEO CHIỀU CỦA LỰC SO VỚI CHIỀU CỦA SỢI
Để dễ hiểu, chúng ta hãy hình dung một mảnh vải vuông roving dệt hay một mảnh vải Tissue thủy tinh. Nếu ta kéo căng chúng theo chiều dọc của sợi dọc hoặc sợi ngang, thì sức bền tương đối cao và bằng nhau. Nhưng nếu ta kéo căng theo chiều chéo (so với sợi dọc hoặc ngang), thì ngay lập tức các sợi sẽ xô dạt lên nhau làm cho miếng vải méo mó thành hình bình hành. Đó chính là vì với lực kéo xiên như thế thì sức bền của mảnh vài thủy tinh bị giảm. Nói cách khác sức bền của laminat FRP phụ thuộc vào chiều của lực so với chiều của sợi thủy tinh. Roving dệt WR và các loại vải thủy tinh dệt không thuộc loại đẳng hướng đều có đặc tính trên, mà thông thường sức bền tổng thể đều thấp hơn sức bền của sợi dọc khoảng 20%. Trái lại, MAT-CSM bản chất nó là các sợi độc lập trải ngẫu nhiên, nhiều hướng khác nhau, nên nó thuộc loại đẳng hướng.


Hình trên mô tả sự thay đổi sức bền uốn của laminat FRP được cấu tạo từ 3 loại vải sợi thủy tinh MAT, MAT kết hợp WR (roving dệt) và Roving dệt (WR), khi chiều của lực thay đổi từ 0 độ (tức theo chiều của sợi dọc) đến 90 độ (tức thẳng góc với chiều của sợi dọc). Các trị số trên trục tung và hoành biểu thị sức bền uốn của laminat. Ta thấy, với MAT thì sức bền đồng đều theo các chiều tác dụng của lực. Nhưng với MAT kết hợp với roving dệt (WR) thì ở 45 độ sức bền có giảm, đặc biệt nếu laminat chỉ có roving dệt thì ở 45 độ sức bền giảm khá rõ rệt. Từ đây có thể giải thích vì sao laminat một chiều chịu ứng lực rất cao nếu lực theo cùng chiều của sợi. Tuy nhiên trong thực tế ứng suất tổng các chiều rất thấp, vì còn liên quan đến resin và ứng lực không thể diễn ra đúng theo chiều của sợi như ta mong muốn. Đây chính là chỗ đòi hỏi người thiết kế sáng suốt và bố trí hợp lý chiều của sợi thủy tinh một cách hợp lý nhất tại nơi cần thiết cho phù hợp với chiều của lực.

Đang tiếp tục cập nhật...


Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

[TÀU THUYỀN COMPOSITE] KẾT CẤU VỎ TÀU FRP (TÀU FRP - P.4)

Vỏ tàu FRP có 2 dạng kết cấu cơ bản: vỏ đơn và vỏ kép

A. KẾT CẤU TÀU CÓ VỎ ĐƠN:
Tương tự như các tàu thuyền vỏ gỗ, thép thông thường, vỏ tàu FRP được tạo nên bởi các laminat composite (đủ chiều dày) có áo bên ngoài, liên kết với các xà, dầm dọc và ngang tạo thành một cấu trúc liên hoàn vững chắc của vỏ tàu. Đây là cấu trúc đơn giản nhất được áp dụng rất phổ biến cho các tàu cỡ nhỏ, thỏa mãn được sức bền với hình dáng uốn lượn của vỏ tàu.

1.CÁC KẾT CẤU KHUNG XƯƠNG:
Hệ thống cấu trúc khung xương gia cường vỏ tàu bao gồm các xà dọc, xà ngang, vách ngăn khoang, sườn hoặc kết hợp xà dọc với xà ngang. Nói chung ở các tàu gắn máy thì các xà dọc đáy thường được sử dụng làm bệ máy. Chúng được liên kết với các xà ngang đáy và vách ngăn để truyền lực sang hông vỏ tàu. Hông vỏ tàu có lắp máy thường không cứng vững vì hình dạng phức tạp, thường bố trí buồng ở có nhiều đồ đạc, do đó vách ngăn sẽ làm nhiệm vụ chịu lực. Nếu yêu cầu phải có xà ngang thì nói chung chúng phải nằm sâu phía dưới để không ảnh hưởng đến bố trí nội thất bên trong các buồng. Ở mặt khác xà ngang thường nặng hơn dầm dọc nên khó hòa hợp với trang bị bên trong buồng ở. 

Còn với thuyền buồm thì các dầm, xà nói chung là nhỏ và ít, do hình dáng đơn giản. Với thuyền lớn hơn có ki thì ít nhất cũng có 2 dầm dọc được liên kết chặt chẽ với một loạt xà ngang đáy để giữ ki.
Một số dạng dầm dọc và xà ngang thông dụng, hầu hết đều áp dụng kết cấu “bánh kẹp thịt” – sandwich và được mô tả như sau:

a) Lõi xốp được bọc laminat FRP tại chỗ và liên kết với vỏ tàu. Có rất nhiều cách thực hiện, kể cả tạo dáng sơ bộ bằng khuôn plastic hay FRP hoặc một rãnh lõm để tạo dáng cho lõi xốp.
b)Tương tự như kiểu nêu trên, nhưng có một số lớp gia cường một chiều ở đỉnh dầm để tang độ cứng vững và sức bền.

c)Lõi bằng gỗ hoặc ván ép. Ở đây dầm được thiết kế theo sức bền của gỗ vì mô đun đàn hồi của gỗ tương đương với FRP, cho nên FRP chỉ làm nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ và giữ gỗ áp sát vào thành vỏ tàu. Không dung gỗ làm dầm đáy tàu vì nó có thể bị mục hoặc cong vênh khi gặp nước. Tuy nhiên, trong thực tế công nghiệp nói chung, phần lớn các nhà xây dựng thích dùng gỗ ván hơn là gỗ tấm vì nó dễ ổn định kích thước. Với dầm gỗ làm lõi thì điều quan trọng là chỗ thành đứng và chỗ gối đầu nhau sao cho duy trì sức bền đồng đều.

d) Dầm đúc sẵn: được gắn vào vỏ tàu tại các nóc. Ưu điểm của loại này là dễ kiểm soát kích thước ở vùng bị giới hạn, ví dụ bệ máy và nơi không cần phải có lõi.

e) Dạng nửa ống, trong đó nửa ống bằng vật liệu các tông làm lõi. So với dầm kiểu a thì kém hiệu quả hơn vì tính chất hình học của nó, cho nên chủ yếu áp dụng cho tải trọng nhẹ.

f)Bộ khung đúc sẵn, được gắn vào vỏ tàu FRP tại các góc đáy và bên trong thường được nạp đầy xốp. Dạng này thường được áp dụng cho các tàu nhỏ gắn máy.



Các thành phần của kết cấu bộ khung xương phải chạy liền qua các kết cấu đỡ nó nếu không có trở ngại, đồng thời phải dán gắn cứng vững với kết cấu ấy. Chỗ nào không thể thực hiện được thì điểm nối cuối phải được thiết kế cẩn thận sao cho giảm tối đa tải trọng trên laminat FRP, vì chính laminat này sẽ truyền tải cắt từ dầm sang kết cấu đỡ nó.

2. VÁCH NGĂN KHOANG:
Số lượng, vị trí và kết cấu vách của các tàu nhỏ nói chung xuất phát từ bố trí nhiều hơn là do kết cấu tàu. Với tàu nhỏ, máy có thể kẹp ngoài hoặc lắp bên trong, thì hiếm khi có vách ngăn. Nếu tàu lớn hơn một chút và lắp máy bên trong thì có vách ngăn khoang mũi và khoang máy theo yêu cầu của khách hàng. Với tàu lớn hơn nữa thì có thể thêm vách ngăn nếu không gian cho phép. Khi vách có chiều rộng khoảng 15-20 feet cần được liên kết tốt với vỏ tàu, thì nó thường phải đi xuông sát đáy để tăng độ cứng vững dọc tàu, trừ khi đáy quá sâu.

Với các thuyền buồm (sailboats) thì số lượng vách ngang bị hạn chế vì lý do duy nhất là lực tải khi thuyền phải chạy toàn tốc trong thời tiết khó khan. Các thuyền đua lớn hiện nay thường có các vách ngang hoặc các khung sườn. Vách ngang thường cấu tạo từ ván ép vì nó cứng vững mà không đắt tiền. Ít khi dùng ván ép làm khung xương, trừ trường hợp tàu rất lớn, đòi hỏi sức bền, thì áp dụng với các chiều dầy thích hợp. Thông thường với tàu 20-30 foot, thì chiều dày vách ngang khoảng ½ inch, với tàu cá lớn hơn thì ¾ inch. Tuy so với kết cấu sandwich thì ván ép nặng hơn, nhưng do giá thành thấp nên nó vẫn được dùng.

B.TÀU VỎ KÉP
Cấu trúc sandwich – nguyên lý của cấu trúc này là đưa trục uốn trung hòa ra xa lớp áo vỏ, làm cho sức bền uốn của vỏ tàu tăng cao, trong khi lõi và vật liệu xốp nhẹ chịu ứng xuất nén và cắt là chủ yếu. Cấu trúc sandwich trên tàu thường áp dụng ở những vùng có diện tích lớn như: sàn đi, vách, đỉnh nóc cabin hoặc chịu ứng lực cao (nếu vỏ đơn thì phải rất dày) hoặc ở chỗ sâu mà sàn buồng lại cao.v.v…Vì lõi xốp có sức bền nén thấp nên khi cần thiết lồng vào bên trong chất lõi có sức bền cao hơn bằng cách bắt bulong. Nếu tải định mức tương đối nhẹ thì thường có thể thay lõi bằng các tấm lớn kẹp chặt bằng bulong. Nếu tất cả vỏ tàu đều phải tăng sức bền thì người ta lại thích trở về vở đơn hơn, vì không phải dùng lõi và tránh hiện tượng ngấm nước làm ảnh hưởng đến sức bền của các chỗ gắn dán.

Để minh họa cấu trúc sandwich trên tàu FRP, trên hình 2 đến hình 6-XVII là mặt cắt giữa với các cấu trúc tương đối điển hình của các tàu FRP khác nhau. Từ các minh họa này chúng ta thấy các cấu trúc sandwich được áp dụng rất nhiều cho các xà, dầm, cho sàn ngồi, đi lại, mặt boong, vách ngăn. Riêng với vỏ tàu thì áp dụng tại các nơi chịu lực va đập có ứng suất uốn cao. Đặc biệt đối với tàu cá, tàu đánh tôm đòi hỏi phải có 
Hình 2-XVII: Mặt cắt xuồng nhỏ
Hình 3-XVII: Mặt cắt thuyền buồm nhỏ
Hình 4-XVII: Mặt cắt tàu tuần tra lắp ráp máy trong hoặc ngoài
Hình 5-XVII: Mặt cắt thuyền buồm đại dương
Hình 6-XVII: Mặt cắt du thuyền lớn lắp máy
Hình 7-XVII: Mặt cắt tàu tôm lưới kéo
Theo tác giả: THẠC SĨ NGUYỄN ĐĂNG CƯỜNG

NGUYÊN LIỆU LÀM TÀU COMPOSITE:
- Nhựa Vinyl Ester Resin Showa Denko 802EX (Nhật Bản) hoặc Swancor 901 (Đài Loan)
- Sợi thủy tinh Chopped Strand Mat KCC (Hàn Quốc) hoặc Nittobo (Nhật Bản)
- Woven Roving E 600 (800) - Jushi Trung Quốc
- Các chất xúc tác, xúc tiến, màu, chất độn khác.



Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

[TÀU THUYỀN COMPOSITE] NGUYÊN LIỆU CƠ BẢN DÙNG CHO TÀU COMPOSITE (Tàu FRP - P.3)

Ba loại resin cơ bản sử dụng cho tàu thuyền là: polyester, epoxy, hoặc vinylester, trong đó phổ biến hơn cả là polyester và vinylester vì các lý do sau:
  • Giá không đắt (mắc).
  • Cho phép áp dụng kỹ thuật sản xuất linh hoạt và đơn giản nhất.
  • Không độc hại cho người (so với epoxy)
  • Chịu hóa chất tốt
  • Tách khuôn dễ hơn và chịu nhiệt tốt.
Polyester rẻ hơn vinylester, tuy cường độ chịu lực và một vài đặc tính khác không bằng epoxy và vinylester, nên được sử dụng rộng rãi hơn cả. Polyester và vinylester thuộc loại vật liệu “chậm bắt lửa” nên nó khó bắt lửa và chậm cháy. Hiện nay ở Mỹ để phòng cháy nơi tiếp xúc với nhiệt độ cao, người ta áp dụng những cấu trúc xốp tách nhiệt hoặc phủ lớp sơn chống cháy để bảo vệ. 
*Các loại Polyester phổ biến sản xuât tàu composite: 
*Các loại Vinylester phổ biến sản xuất tàu composite:
(Nhựa Vinyl 802 của Nhật Bản mới được TOÀN TIẾN cung cấp ra thị trường nhưng đã nhận được sự phản hồi rất tích cực từ phía khách hàng, chất lượng tốt, giá cạnh tranh và hoàn toàn thay thế tốt cho Swancor 901).

2.GELCOAL (GELCOAT):
Vẫn sử dụng 2 loại gelcoal: có hòa wax và không hòa wax, nhưng loại thứ nhất phổ biến hơn. Người ta dùng một số chất độn hoặc phụ gia thích hợp để dễ dàng thi công ở những thành đứng của vỏ tàu và tăng khả năng chống cháy.
*Các loại gelcoal phổ biến dùng làm tàu composite:
Hình ảnh TOÀN TIẾN COMPOSITE giao hàng Gelcoat trắng, Gelcoat trong cho khách hàng
3.CHẤT XÚC TÁC VÀ XÚC TIẾN:
Thường sử dụng 2 cặp nguyên liệu sau đây:
  • Xúc tác: MEKP với xúc tiến Cobalt naphthanat.
  • Xúc tác: Cuemene hydroperoxit với xúc tiến managanese naphthanat.
  • Xúc tác và xúc tiến phải phù hợp như nêu trên.
*Các loại xúc tác phổ biến dùng làm tàu composite:
  • Trigonox V388 (Akzo Nobel)
  • Butanox M50 (Akzo Nobel)
  • Butanox M60 (thường dùng trong thời tiết lạnh, khô nhanh hơn)
  • Cobalt 6%, 10%

4.SẢN PHẨM VÀ SỢI THỦY TINH GIA CƯỜNG:
Với tàu thuyền cũng sử dụng các loại vật liệu gia cường sau đây:
Vải: Dùng cho những bề mặt vỏ tàu lộ diện và cấu trúc cabin để đảm bảo vẻ đẹp, đồng thời để sửa chữa những khiếm khuyết của laminat. 
Roving dệt WR: Khi áp dụng công nghệ hand lay up thì roving dệt có những ưu điểm sau:
  • Dễ cầm tay để trải, dễ treo.
  • Tạo laminat nhanh để đạt chiều dày cần thiết.
  • Cường độ chịu lực, độ cứng vững cao hơn MAT.
  • Chịu va đập tốt do tao sợi không xoắn và liên tục.
Roving dệt thường là loại dày (nặng), tùy theo cỡ tàu: 18,24oz thậm chí đế 60oz trên 1 yard vuông (yd2). (1oz=28,35g).

5.MAT CSM
*Tàu thuyền MAT CSM có những ưu điểm sau:
  • Giá trên trọng lượng đơn vị (kg) của laminat hoặc trên đơn vị chiều dày rẻ hơn:
  • Ứng lực phân bố đều theo một hướng
  • Dễ trải lớp ở những nơi khô, hẹp.
  • Dễ thấm resin và tạo dáng phức hợp so với sản phẩm thủy tinh khác.
Thường dùng loại MAT: ¾-4 oz/ft2, nhưng phổ biến nhất là 1-1/2 oz/ft2. Ngoài MAT, còn sử dụng tao sợi cắt ngắn khi áp dụng công nghệ phun bắn cho những cấu trúc phù hợp.
*Các loại sợi MAT (CSM) phổ biến dùng làm tàu composite:
  • Sợi thủy tinh KCC 300, 450 (KCC - Hàn Quốc)
  • Sợi thủy tinh Nittobo 300, 450 (Nittobo - Nhật Bản)
  • Tàu thuyền composite là sản phẩm mang tính sử dụng lâu dài nên chúng ta không nên sử dụng sợi Trung Quốc vì sợi TQ được làm từ keo kém chất lượng nên giảm độ kết dính, khi lăn nhựa sợi không phân bố đều trên bề mặt thuyền nên khi sản phẩm hoàn thành: có chỗ dày, chỗ mỏng...Thợ lành nghề lâu năm may ra khắc phục và giảm được một phần nào đó nhược điểm.
6.ROVING MỘT CHIỀU
Đây cũng là vật liệu gia cường phù hợp cho tàu thuyền, nó cho phép bố trí chiều chịu lực chính ở nơi cần thiết. Nó đảm bảo độ cứng vững và cường độ chịu lực cao đồng thời dễ dàng đạt tối ưu tỷ lệ trọng lượng và sức bền. Tuy nhiên nói chung giá trên đơn vị trọng lượng cao hơn roving dệt. 
*Các loại Roving thưởng sử dụng gia cố tàu composite:
  • Roving EWR 600, 800 của Jushi - Trung Quốc (Loại này sử dụng khá ổn định. Ở thị trường VN chưa có loại roving khác nên khách hàng thường phải sử dụng loại này)

7.MAT và ROVING KẾT HỢP
Để vừa tăng độ chịu lực, tiết kiệm thời gian và resin trong thực hiện laminat, thường MAT và roving được trải lớp xen kẽ. Có thể lăn ép resin cho từng loại riêng biệt hoặc kết hợp lăn ép resin đồng thời hai loại một lúc.

8.SẢN PHẨM TẨM SẴN RESIN “PREGREG”
Ưu điểm là tỷ lệ sợi thủy tinh cao, kiểm soát được tỷ lệ resin/sợi thủy tinh, hạn chế resin dư thừa và có thể sử dụng resin có độ nhớt cao, đồng thời cường độ laminat cao. Nhược điểm lớn nhất của vật liệu này là: hạn chế áp dụng cho tàu nhỏ, thời gian lưu trữ ngắn, khó cầm tay trải lớp vì dính. Ngoài ra nếu tự sản xuất prepreg, thì đòi hỏi thêm thiết kế và điều kiện bảo quản lưu trữ, đồng thời khi thực hiện laminat đúng tiêu chuẩn thường phải áp dụng bơm hút chân không. Prepreg nói chung được đóng rắn dưới áp lực và nhiệt độ nâng cao: 200-300 độ F. Giá cao cũng là lý do hạn chế phạm vi ứ
ng dụng của loại vật liệu này.