TỔNG HỢP BÀI VIẾT ĐÁ NHÂN TẠO COMPOSITE
LỚP GELCOAT:
- Cần lưu ý, ở đây là loại gelcoat trong (Clear gelcoat). Gelcoat được hòa xúc tác và phun với chiều dày ướt 18 ± 2 mils. Đây là loại gelcoat chuyên dùng, tạo dáng chính xác, rõ rang cho bề mặt cẩm thạch nhân tạo.
- Lớp gelcoat phải đóng rắn rồi mới đổ hỗn hợp vật liệu resin và chất độn. Thời gian đóng rắn tùy thuộc vào nhiệt độ, mức tỷ lệ xúc tác và sự thông không khí. Thông thường 45-90 phút, nhưng nếu trong không khí (lò) 38-49 độ C thì thời gian đóng rắn chỉ còn 15-20 phút. Nhiệt không đều, quá cao, hoặc để trong lò quá lâu đều có thể làm gelcoat bong sớm.
HỖN HỢP RESIN VỚI CHẤT ĐỘN:
Resin: Điều kiện xưởng, thời gian tách khuôn, loại sản phẩm là những yếu tố để lựa chọn resin cho phù hợp (nên tham khảo nhà cung cấp). Nếu sản xuất hàng loạt các sản phẩm phẳng, dẹt, chiều dày như nhau thì sử dụng resin độ nhớt thấp (Low viscosity). Cũng có thể dụng resin độ nhớt thấp cho các sản phẩm chậu, bát (Bowls) nhưng phải giới hạn thời gian đóng rắn để tránh rạn, méo, vênh, đồng thời tác khuôn khi còn dẻo và đặt vào các giá định vị để tránh vênh.
Resin có độ nhớt cao và trung bình thường được sử dụng để sản xuất chậu bát nói chung và các loại ống. Loại resin này có độ co ngót và tỏa nhiệt thấp, giảm thiểu được hiện tượng rạn nứt, méo vênh và thời gian đông và đóng rắn khác nhau, có thể lựa chọn phù hợp với điều kiện cụ thể của xưởng.
Chất độn (Fillers): thường là loại đá vôi limeston như: Silica sand (Chịu thời tiết tốt), frit hoặc hydrated alumina (cho ánh sáng mờ qua) hoặc cho vẻ bề ngoài như đá trang sức. Chất độn là các hạt hình cầu rỗng giả kết hợp cùng với cacbonat canxi để giảm trọng lượng. Chất độn chiếm tỷ lệ cao nhất trong hỗn hợp resin và chất độn. Người ta dùng sàng để phân loại hạt chất độn. Ví dụ loại 325 mắt sàng cho ta hạt mịn, 40-200 mắt cho hạt thô. Hỗn hợp gồm 5 thô 3 mịn (3/5) cho ta đặc tính chịu tải tốt và tránh được cong vênh. Sự kết hợp hạt minh và thô sẽ làm giảm resin mà chịu tải cao hơn (Higher loading). Cần kiểm tra tỷ lệ giữa resin và chất độn để có được màu sắc, thời gian đông và đóng rắn tốt của cả hỗn hợp.
Tạo hỗn hợp trộn (Matrix): Cho loại mịn trộn cùng resin trước, sau đó mới đến hạt thô. Có nơi trộn hẳn mẻ chủ lớn (Master match), cũng có nơi áp dụng từng mẻ nhỏ (Small match).
Mẻ chủ lớn: Một mẻ lớn trộn khoảng 400 – 1000 pounds (182 – 454kg) được thực hiện trên nền bê tong, nhưng chưa hòa xúc tác, được che phủ cẩn thận, có thể để ít nhất một tuẩn với điều kiện phải đảo trộn mỗi ngày để tránh đông kết. Khi sử dụng, lấy từng mẻ nhỏ hòa xúc tác và màu sắc để sản xuất. Ưu điểm của phương pháp này là các hạt độn thấm resin rất tốt, độ đậm đặc của cối trộn (Matrix) thấp phù hợp với lượng resin. Nhược điểm là khó trộn xúc tác đều so với việc hòa resin với xúc tác trước.
Mẻ nhỏ: Với mẻ nhỏ thì nguyên liệu được chuẩn bị đủ cho sản phẩm trong một cối trộn (Blender). Resin và xúc tác được hòa trộn theo tỷ lể trước trong cối sau đó đổ chất độn và màu sắc vào rồi cùng hòa trộn với resin. Phương pháp này đảm bảo hơn trong hỗn hợp đúc. Nhược điểm là thời gian trộn hỗn hợp ngắn vì thời gian đông và đóng rắn bị hạn chế, cho nên các hạt độn thấm resin không tốt, đòi hỏi phải sử dụng resin cao cấp hơn, có độ nhớt chuẩn xác hơn. Độ đậm đặc của cối trộn có thể điều chỉnh bằng cách cho thêm resin hoặc thêm chất độn. Khi dùng resin có độ nhớt cao hàm lượng resin trong hỗn hợp thường là 20-25% trọng lượng, chất độn 50% hạt thô và 30% hạt mịn. Tùy thuộc kiểu dáng sản phẩm, tiêu hao hỗn hợp trộn thường 8 pounds/1 foot vuông diện tích cẩm thạch nhân tạo, với chiều dày ¾ inch (19,1mm).
Hiện nay, ngày càng sử dụng nhiều máy tự động trộn hỗn hợp cẩm thạch, và có bộ phận hâm nóng resin. Resin được hòa xúc tác ngay sau khi đổ chất độn vào resin. Trong quá trình máy trộn hoạt động thì bột màu được cho vào. Công suất trộn khoảng 70 pounds (32kg) hỗn hợp trong 1 phút. Thời gian trộn: 10 giây.
